Thẻ: công ty luật

tư vấn thi hành án

Đại diện Thi hành án dân sự

Hoạt động thi hành án dân sự (THADS) là việc thực hiện hóa phán quyết của cơ quan tài phán (Tòa án hoặc Trọng tài) được thể hiện tại bản án, có hiệu lực pháp luật của các cơ quan, tổ chức này. Continue reading “Đại diện Thi hành án dân sự”

thu hồi nợ khó đòi

Giải pháp thu hồi nợ, xử lý nợ khó đòi

Nếu gặp phải tình huống nợ khó đòi trong kinh doanh thì phải làm gì?

Trong hoạt động kinh doanh của mình, việc các doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, rào cản là điều tất yếu. Một trong những khó khăn của các doanh nghiệp hiện nay là “vấn đề thu hồi nợ, xử lý nợ khó đòi”. Continue reading “Giải pháp thu hồi nợ, xử lý nợ khó đòi”

đơn yêu cầu thi hành án

Soạn đơn yêu cầu thi hành án

Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, hạn chế những trường hợp người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc THA, sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, đương sự nên làm đơn yêu cầu thi hành án gửi đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Continue reading “Soạn đơn yêu cầu thi hành án”

hỏi đáp thi hành án

Điều kiện khi kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải THA

Câu hỏi: Cơ quan thi hành án khi tiến hành kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác cần phải đáp ứng các điều kiện gì?

(Câu hỏi của chị Mai Thị Thu T ở quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ)

Trả lời:

Trường hợp cơ quan thi hành án kê biên tài sản thuộc sở hữu chung được căn cứ theo quy định tại Điều 74, Luật thi hành án dân sự Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về việc cưỡng chế tài sản thuộc sở hữu chung như sau:

1. Trước khi cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác, kể cả quyền sử dụng đất, Chấp hành viên phải thông báo cho chủ sở hữu chung biết việc cưỡng chế. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện thì người được thi hành án hoặc Chấp hành viên có quyền yêu cầu Toà án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để bảo đảm thi hành án.

Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết. Trường hợp vợ hoặc chồng không đồng ý thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày phần sở hữu được Chấp hành viên xác định. Hết thời hạn trên, đương sự không khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành xử lý tài sản và thanh toán lại cho vợ hoặc chồng của người phải thi hành án giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:

a) Đối với tài sản chung có thể chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án;

b) Đối với tài sản chung không thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và thanh toán lại cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu của họ.

3. Khi bán tài sản chung, chủ sở hữu chung được quyền ưu tiên mua tài sản.

Theo quy định trên thì tài sản chung của người phải thi hành án với người khác là tài sản thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong trường hợp họ là người thế chấp, bảo lãnh cho người phải thi hành án) với người khác không liên quan đến bản án, quyết định đang được tổ chức thi hành. Do vậy, tài sản chung trong các vụ án hôn nhân gia đình, chia thừa kế đã được Tòa án giải quyết thì không thuộc trường hợp áp dụng theo Điều 74 Luật thi hành án dân sự nêu trên, vì người được thi hành án, người phải thi hành án đều là những người trong cùng bản án, quyết định. Hơn nữa, tài sản chung của họ đã được Tòa án giải quyết, phân chia.

Như vậy, điều kiện đầu tiên đó là tài sản chung bị kê biên không phải là tài sản chung trong các vụ án hôn nhân gia đình, chia thừa kế.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, Điều 74 Luật thi hành án dân sự thì điều kiện để kê biên tài sản chung của người có nghĩa vụ thi hành án là phải xác định được phần sở hữu của từng chủ sở hữu. Quy định này được hiểu là Chấp hành viên chỉ kê biên, xử lý tài sản sau khi đã có bản án của Tòa án về việc xác định tài sản chung.

Điều kiện thứ ba, cơ quan thi hành án khi kê biên tài sản chung của người có nghĩa vụ thi hành án phải chấp hành đúng các nguyên tắc sau:

– Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên, xử lý đối với tài sản chung là quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi các tài sản khác không đủ để thi hành án hoặc khi có đề nghị của người phải thi hành án về việc tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để thi hành án, các chi phí liên quan. Trong trường hợp này, chấp hành viên lập biên bản giải thích cho họ về việc phải chịu mọi chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản đó và tiến hành kê biên tài sản để thi hành án. Người phải thi hành án bị hạn chế quyền thực hiện giao dịch đối với các tài sản khác cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.

– Cơ quan thi hành án dân sự chỉ kê biên tài sản khác của doanh nghiệp phải thi hành án, nếu sau khi đã khấu trừ tài khoản, xử lý vàng, bạc, đá quý, kim khí quý khác, giấy tờ có giá của doanh nghiệp đang do doanh nghiệp quản lý hoặc đang do người thứ ba giữ mà vẫn không đủ để thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định có quyết định khác hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

Để được hỗ trợ chi tiết về vấn đề thi hành án hoặc các dich vụ pháp lý khác, Quý khách vui lòng liên hệ tới Công ty Luật TNHH Minh Tín theo:

Số điện thoại: 024.3555.8410/0915.177.856

HOTLINE: 0902.267.116

Email: info@luatminhtin.vn

Rất mong được hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng.

hỏi đáp thi hành án

Tài sản của người phải thi hành án đang tranh chấp thì có THA được không?

Câu hỏi: Tài sản của người phải thi hành án đang có tranh chấp thì Chấp hành viên có xử lý để thi hành án được không?

(Câu hỏi của anh Lê Văn T ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai)

Trả lời:

Trường hợp tài sản của người phải thi hành án đang có tranh chấp thì Chấp hành viên căn cứ theo quy định tại Điều 75 Luật thi hành án dân sựLuật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)để xử lý.

Thứ nhất, đối với trường hợp tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp hành viên sẽ tiến hành thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật này.

Thứ hai, đối với trường hợp có căn cứ xác định giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.

Để được hỗ trợ trực tiếp về vấn đề thi hành án hoặc các dịch vụ pháp lý khác, Quý khách vui lòng liên hệ tới Công ty luật Minh Tín theo:

Số điện thoại: 024.3555.8410/0915.177.856

HOTLINE: 0902.267.116

Email: info@luatminhtin.vn

Rất mong được hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng.